Các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn HP

Hiện nay ở Việt Nam có 2 phương pháp được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, rẻ tiền, phù hợp với đa số người bệnh là test nhanh urease và mô bệnh học.

Vi khuẩn HP là thủ phạm chính gây viêm loét dạ dày và biến chứng ung thư dạ dày. Tại Việt Nam, khoảng 60-70% dân số nhiễm vi khuẩn HP. Chính vì thế, việc xét nghiệm và diệt trừ vi khuẩn HP rất quan trọng. Hiện nay có rất nhiều phương pháp xét nghiệm vi khuẩn HP nhưng dựa theo hình thức nội soi dạ dày tá tràng, người ta chia làm 2 phương pháp: xâm lấn và không xâm lấn.

Những ai nên làm các xét nghiệm tìm vi khuẩn HP?

  • Tiền sử có loét dạ dày tá tràng nhưng chưa được xét nghiệm HP
  • Có rối loạn tiêu hóa
  • Có hình ảnh viêm, loét dạ dày tá tràng trên nội soi
  • Có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị ung thư dạ dày
  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản cần điều trị duy trì kéo dài banwgfn hóm thuốc ức chế bơm proton
  • Cần điều trị lâu dài với các thuốc thuộc nhóm kháng viêm không steroid (NSAID)
  • Thiếu máu, thiếu sắt không rõ nguyên nhân
  • Ban xuất huyết tiểu cầu vô căn
  • Sau phẫu thuật ung thư dạ dày
  • Bệnh nhân mong muốn được điều trị

Các phương pháp xét nghiệm HP

Phương pháp xâm lấn (qua nội soi dạ dày tá tràng): 

Mục đích: kiểm tra hình thái tế bào, xác định typ HP, nuôi cấy HP, làm kháng sinh đồ.

Nội soi dạ dày tá tràng

Có 5 phương pháp:

  1. Test nhanh urease (thực hiện tại phòng nội soi): Dựa vào khả năng của vi khuẩn có thể biến đổi Ure thành CO2 và Amoniac. Mẫu niêm mạc được đặt trong môi trường Test gồm ure và chất chỉ thị màu. Nếu có HP trong niêm mạc sẽ làm pH tăng lên, chất chỉ thị sẽ đổi màu. Dựa và sự thay đổi màu này để chẩn đoán. Đọc kết quả nhanh sau 15 đến 25 phút với nhiệt độ trong phòng. Cách làm đơn giản, dễ thực hiện. Bệnh nhân có thể mang kết quả theo về (nếu kít thử ở dạng thạch dễ bảo quản, không chảy), giá thành rẻ. Tuy nhiên độ nhạy 89-95%, độ đặc hiệu: 90-98%.
  2. Xét nghiệm mô bệnh học: Bác sĩ sẽ tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm. Mẫu này được cố định bằng folmol 10% sau đó cắt thành mẫu nhỏ với kích thước từ 4 – 6 mm. Sau đó, mẫu thử sẽ được nhuộm bằng nhiều phương pháp để tiện cho việc phân tích. Những phương pháp nhuộm thường dùng như: Hematixyline – eosine (H.E), Warthin- Starry, Giemsa, Acridine- Orange, Peroxydase- Antiperoxydase, nhuộm hóa mô miễn dịch với kháng thể không đánh dấu. Đọc chính xác mật độ nhiễm HP theo các mức độ từ 1 đến 4.
  • HP (-) = âm tính: không có HP trên bất kỳ vi trường nào
  • HP (+) = mức độ nhẹ: có khoảng <25 HP/ vi trường
  • HP (++) = mức độ vừa: có khoảng từ 25 đến 50 HP/ vi trường
  • HP (+++) = mức độ nặng: có khoảng > 50 HP/ vi trường

Ưu điểm: Độ nhạy cao 90-98%, độ đặc hiệu 90-98%. Sử dụng được ở các cơ sở y tế, cho phép hồi cứu nghiên cứu, đánh giá được niêm mạc.

Nhược điểm: kết quả chậm (vài ba ngày), hạn chế nhận biết HP với các vi khuẩn khác, không biết được tính đề kháng kháng sinh, không biết được typ vi khuẩn.

  1. Nuôi cấy: Sau khi lấy sinh thiết, mẫu sinh thiết sẽ được nghiền trong 0.5ml nước muối sinh lý trong vài giây. Mẫu sinh thiết này sẽ được đưa vào môi trường nuôi cấy ngay sau đó ở nhiệt độ ổn định 37 độ C. Đây là phương pháp đặc hiệu nhất trong chẩn đoán HP, cho phép phát hiện tính nhạy cảm kháng sinh, làm kháng sinh đồ, định được typ HP, độ đặc hiệu 95-100%. Tuy nhiên có kết quả chậm (3-5 ngày), không biết được tình trạng bên trong của niêm mạc dạ dày, độ nhạy thấp (77-92%), chưa thể thực hiện được ở tất cả các cơ sở y tế.
  2. Khuếch đại gene (PCR): xác định chính xác các typ của HP, phát hiện các chủng đột biến, có độ nhạy (94-100%) và độ đặc hiệu cao (100%). Không nhất thiết phải có HP còn sống, giữ được mảnh sinh thiết lâu ngày cho đến khi cần làm, có giá trị khi kiểm tra sau điều trị. Tuy nhiên không thể kiểm tra được tính nhạy cảm kháng sinh, không biết được tình trạng bên trong của niêm mạc dạ dày, có thể có nguy cơ lây bệnh (dương tính) giả hoặc những chất ức chế phản ứng (âm tính) giả, tốn kém hóa chất, đắt tiền, không thực hiện được ở tất cả các cơ sở y tế. Nếu dây nội soi rửa và khử trùng không kỹ có thể làm sai lệch kết quả.
  3. Siêu cấu trúc: có độ chính xác cao, nghiên cứu được cấu trúc, vị trí quần cư của HP, biết được tổn thương bên trong niêm mạc dạ dày. Tuy nhiên có độ nhạy thấp, trước khi sinh thiết bệnh nhân không được dùng kháng sinh 4 tuần.
  • Ưu điểm: tiến hành đồng thời một lúc nhiều phương pháp xét nghiệm HP như hình thái tế bào, xác định týp HP, nuôi cấy HP, làm kháng sinh đồ.
  • Nhược điểm: bệnh nhân phải trải qua cuộc nội soi.

Phương pháp không xâm lấn (không qua nội soi dạ dày tá tràng): 

Mục đích: phục vụ cho các nghiên cứu dịch tễ học và xác định tỷ lệ nhiễm HP đơn thuần.

Ưu điểm: không qua nội soi, điều tra dịch tễ học, kiểm tra quần thể dân cứ, khám sức khỏe định kỳ, áp dụng được cho cả trẻ em.

Nhược điểm: không đánh giá được nhạy cảm kháng sinh.

  1. Xét nghiệm huyết thanh học: Dùng huyết thanh để phát hiện kháng thể IgG đặc hiệu với HP
  • Xét nghiệm huyết thanh học định tính: xác định có hay không có kháng thể kháng HP trong huyết thanh. Tuy nhiên không xác định được bệnh nhân bị nhiễm HP hiện tại hay trước đó do kết quả vẫn dương tính sau nhiều năm điều trị diệt trừ HP. Có thể dương tính giả đến 50% mặc dù không bị bệnh. Không dùng để đánh giá kết quả điều trị trong lâm sàng vì kháng thể có thể tồn tại khá lâu sau diệt trừ HP.
  • Xét nghiệm huyết thanh học định lượng: xác định hàm lượng kháng thể trong huyết thanh, đánh giá được kết quả điều trị, có giá trị trong nghiên cứu dịch tễ học. Tuy nhiên cần xét nghiệm trước và sau điều trị 6 tháng vì lúc đó kháng thể trong huyết thanh mới giảm đáng kể, có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp nên ít có giá trị trong lâm sàng.
  • Phương pháp ELISA: test huyết thanh này có thể phát hiện được tất cả các kháng thể được HP tạo ra, đó là các immunoglobulin. Phải có máy đọc riêng cho test này.
  • Test thấm Western: test này dựa trên cơ sở cho rằng các kháng nguyên dặc hiệu được chiết tách bằng phương pháp điện di thấm qua màng nitrocellulose sau đó cho tiếp xúc với huyết thanh của bệnh nhân.
  • Test kết dính Latex: test này có thể phát hiện được gần như tất cả các glubolin miễn dịch của vi khuẩn HP. Thời gian đọc kết quả nhanh hơn test ELISA.
  1. Test thở với C13 hoặc C14

Dựa vào phản ứng giữa urea trong hơi thở với đồng vị của cacbon. Test hơi thở có độ nhạy cao (90-100%) và độ đặc hiệu cao (88-100%). Tuy nhiên không đánh giá được tình trạng niêm mạc dạ dày tá tràng.

Phương pháp test thở

3. Các phương pháp khác: phân tích nước bọt, nước tiểu, kháng nguyên trong phân, các yếu tố di truyền.

Lựa chọn các phương pháp chẩn đoán vi khuẩn HP

Khi đến khám bệnh, bác sĩ phải thăm khám cẩn thận người bệnh, hỏi kỹ các phương pháp đã làm trước đây để đưa ra quyết định lựa chọn phương pháp phát hiện HP phù hợp. Ví dụ, bệnh nhân mới bị bệnh, chưa làm bất kỳ xét nghiệm nào thì nên làm test urease, mô bệnh học trước khi điều trị. Sau khi điều trị có thể kiểm tra lại bằng test urease, mô bệnh học. Nếu bệnh nhân không muốn hoặc không thể nội soi kiểm tra lại vì lý do nào đó thì có thể làm test thở. Nuôi cấy chỉ thực hiện khi điều trị hay tái phát hoặc nghi ngờ kháng kháng sinh của HP. Hiện nay ở Việt Nam có 2 phương pháp được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, rẻ tiền, phù hợp với đa số người bệnh là test nhanh urease và mô bệnh học.

                        Nguồn tham khảo: Bệnh lý dạ dày tá tràng (PGS.TS. Nguyễn Duy Thắng)

>> Nếu bạn bị nhiễm vi khuẩn HP, bạn có thể tham khảo bài viết: Phác đồ điều trị vi khuẩn HP mới nhất

>> Hoặc bạn có thắc mắc về bệnh lý viêm hang vị, viêm xung huyết hang vị, viêm dạ dày, đau dạ dày (bao tử) tái phát, gọi ngay Tổng đài tư vấn 1800 6933 (miễn cước gọi) để được tư vấn ngay lập tức!

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN ĐỂ BIẾT TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA BẠN

Đặt mua Thực phẩm bảo vệ sức khỏe
Vương Dạ Khang chính hãng – Giao hàng tận nhà